II. PHẦN VIẾT (6.0 điểm):
Câu 1 (2.0 điểm): Từ đoạn trích kết hợp với những hiểu biết về thực tiễn của bản thân, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về giá trị của việc phát huy nguồn lao động nữ tại địa phương mình.
Câu 2 (4.0 điểm):
Đọc 2 đoạn văn bản sau:
Văn bản 1: Trích Chí Phèo
(Nam Cao)
(Tóm lược: Chí Phèo là một đứa trẻ bị bỏ hoang trong cái lò gạch cũ, được người dân làng Vũ Đại truyền tay nhau nuôi, từ anh thả ống lươn cho đến bà góa mù và bác phó cối. Đến khi hắn 18 tuổi thì Chí bắt đầu đi làm thuê cho nhà Bá Kiến. Vợ của Bá Kiến bắt Chí Phèo phải đấm lưng, xoa đầu cho bà ta và rồi Chí bị đi tù bảy, tám năm. Sau khi ra tù, Chí triền miên trong cơn say, rạch mặt, ăn vạ, chỉ cần ai cho tiền là có thể làm bất cứ điều gì. Chí trở thành tay sai cho Bá Kiến và một con quỷ dữ của làng Vũ Đại...Cho đến một hôm, cũng trong những cơn say như thường ngày, Chí gặp Thị Nở, cuộc gặp gỡ này đã làm thức tỉnh phần người trong Chí.)
Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình hình như ươn ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì. Hắn vẫn phải doạ nạt hay giật cướp. Hắn phải làm cho người ta sợ. Hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuâng. Thị Nở thì chỉ nhìn trộm hắn, rồi lại toe toét cười. Trông thị thế mà có duyên. Tình yêu làm cho có duyên. Hắn thấy vừa vui lại vừa buồn. Và một cái gì nữa, giống như là ăn năn. Cũng có thể như thế lắm. Người ta hay ăn năn hối hận về tội ác khi không đủ sức để ác nữa. Thị Nở giục hắn ăn nóng. Hắn cầm lấy bát cháo đưa lên mồm. Trời ơi cháo mới thơm làm sao! Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm. Hắn húp một húp và nhận ra rằng: những người suốt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo rất ngon. Nhưng sao lại mãi đến bây giờ hắn mới nếm vị mùi cháo?
Văn bản 2: Trích Vợ chồng A Phủ
(Tô Hoài)
(Tóm lược: Mị là một cô gái trẻ, đẹp. Cô bị bắt làm vợ A Sử - con trai thống lý Pá Tra để trừ một món nợ truyền kiếp của gia đình. Lúc đầu, suốt mấy tháng ròng, đêm nào Mị cũng khóc, Mị định ăn lá ngón tự tử nhưng vì thương cha nên Mị không thể chết. Mị đành sống tiếp những ngày tủi cực trong nhà thống lí. Mị làm việc quần quật khổ hơn trâu ngựa và lúc nào cũng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, tầm hồn tàn lụi. Mùa xuân đến, tiếng sáo gọi bạn tình thiết tha đã đánh thức Mị)
Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.
Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường.
Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) so sánh 2 văn bản trên để làm nổi bật sự thức tỉnh của nhân vật.
Chú thích:
(1) Nam Cao (1917 – 1951) quê ở Lý Nhân, Hà Nam. Ông là nhà văn hiện thực lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, có đóng góp quan trọng cho quá trình hiện đại hóa truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Các sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng Tháng Tám tập trung vào hai đề tài chính là người trí thức nghèo và người nông dân nghèo. Sau Cách mạng, ông tham gia kháng chiến và để lại nhiều sáng tác có giá trị, tiêu biểu cho văn xuôi kháng chiến thời kì đầu.
(2) Nhà văn Tô Hoài (1920 – 2014) quê ở Từ Liêm, Hà Nội. Ông là một trong những tên tuổi lớn của văn học hiện đại Việt Nam, có vốn hiểu biết sâu sắc, đa dạng về phong tục tập quán của nhiều vùng miền nhất là vùng Tây Bắc. Các tác phẩm của ông có nội dung phong phú, hấp dẫn người đọc với lối kể chuyện vừa hồn nhiên, hóm hỉnh lại vừa sâu sắc, sinh động