II. LÀM VĂN (6.0 điểm):
Câu 1 (2.0 điểm): Suy nghĩ của anh/chị về chứng ái kỉ của con người trong xã hội hiện đại. Trình bày bằng đoạn văn khoảng 200 chữ.
Câu 2 (4.0 điểm): So sánh, đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật của hai tác giả trong hai đoạn trích sau:
Đoạn 1
(Lược tóm tắt: Dì Hảo là con nuôi của bà tôi. Bố đẻ của dì Hảo chết đã lâu. Mẹ đẻ dì là bà xã Vận, một người đàn bà bán bánh đúc xay, ngon có tiếng. Cuộc sống của bà ngày càng thêm chật vật. Bà quyết định để dì Hảo đi ở nuôi nhà người quen. Đến thì con gái dì đi lấy chồng, dành cho chồng bằng tất cả tình yêu thương của mình. Nhưng trớ trêu thay chồng của dì lại là một kẻ cờ bạc, rượu chè, vũ phu. Dì sinh được một đứa con, nhưng không may đứa con chết, rồi dì lại lâm bệnh, đau yếu, không đi làm được, người chồng lại càng khinh bỉ, ghét bỏ dì, đay nghiến dì Hảo.)
"Dì Hảo chẳng nói năng gì. Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng mà dì cứ khóc. Chao ôi! Dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ. Dì thổ ra nước mắt. Nhưng đã vội phí nước mắt làm gì nhiều đến thế. Vì dì còn phải khóc hơn thế nhiều, khi hắn chán chửi, bỏ nhà mà đi, bỏ dì bơ vơ, đau ốm, để tìm cơm rượu. Trách làm gì hắn, cái con người bắt buộc phải tàn nhẫn ấy? Hắn phải ăn, phải uống, phải vui thú, đó là đời của hắn. Dì Hảo què liệt không còn những cái ấy để mà cho. Không, dì có trách chi con người tàn nhẫn ấy. Cũng như dì đã không trách bà tôi đã làm ngơ không cấp đỡ cho dì. Bà tôi có còn giàu như trước nữa đâu? Người đã già, đã ốm yếu, và khổ cực thay! Đã nghèo như lúc còn hăm hai. Cái cơ nghiệp người gây dựng thầy tôi buôn bán thua lỗ, chúng tôi học hành tổn phí nhiều, đã tan tác đi theo gió bốn phương. Người chỉ có thể đem đến cho dì Hảo mỗi ngày một xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời than thở…”
(Trích Dì Hảo – Tuyển tập truyện ngắn Đôi mắt, Nam Cao, NXB Văn học, 2017)
***Nam Cao (nguyên danh Trần Hữu Tri, thánh danh Giuse [1], (1915 -1951). Ông là một nhà văn, nhà báo và cũng là một chiến sĩ, liệt sỹ . Ông là nhà văn hiện thực lớn, đồng thời là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ 20. Nam Cao có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20.. Truyện “Dì Hảo” của Nam Cao là một tác phẩm văn học viết về đề tài người nông dân nghèo. Nhân vật chính của câu chuyện là bà Hảo, một người phụ nữ đơn thân, sống khổ cực nhưng không từ bỏ hi vọng.
Đoạn 2
(Lược tóm tắt: Chồng của nhân vật tôi – Hạnh - một cô giáo, làm cô Thắm – cô gái ở quê có thai. Nếu việc này lộ ra sẽ ảnh hưởng đến công danh của anh. Hạnh thấy chồng mình cứ gầy rộc đi, mắt hõm, râu mọc xanh cả cằm đã dốc hết tiền của góp trong người mười mấy năm mua một căn nhà ở ngoại ô cho anh ấy đưa cô Thắm lên. Khi anh đi rồi, Hạnh còn lại một mình, thấy trống vắng và sụp xuống, nức nở khóc..)
Thỉnh thoảng anh cũng về thăm tôi. Nhưng anh về một chút rồi lại đi. Tôi không dám trách. Sắp đến đại hội Chi bộ, phải giữ gìn. Anh có muốn nấn ná tôi cũng giục anh đi cho được. Anh bảo: "Mình đừng buồn. Tôi nói với mình đinh ninh từ khi chưa ly hôn. Nay cũng thế, tôi ở bên ấy nhưng thực ra chỉ có mình mới là vợ của tôi". Tôi nghe, chỉ biết khóc. Vợ chồng mà gặp nhau lén lút như thế này, cái số tôi sao mà trớ trêu? […]
Đại hội Chi bộ đã qua, anh lại được tín nhiệm cao. Tôi mừng. Tôi nhắn Thắm chăm sóc anh cho chu đáo… Tết đến, tôi lo mua nếp gói bánh. Năm nay nhà đông phải gói nhiều. Đang loay hoay tìm mua lá dong, chợt nghe nói bà Thu sắp có dịp về quê, tôi lật đật sang nhờ bà ấy mua giúp. Vào đến cửa, tôi chững lại khi nghe tiếng anh Phương, rồi tiếng Thắm. Một giỏ quà, ý chừng đồ đi tết, đang nằm trên ghế. Bà Thu cười: Không có tôi thì anh chị còn mỗi người một nơi đến bao giờ? Nhưng mà nói vậy chứ không nhận quà này nhé. Bày vẽ làm gì, cái tình với nhau là chính". "Ấy, chút quà xin chị nhận cho, của thảo lòng thành". Tôi rụng rời, không nhận ra được giọng cô gái quê thơ ngây chất phác sáu năm về trước... Bà Thu ngọt ngào: "Cái cô Thắm này khéo thật, chả trách bà Hạnh cất công tìm tòi chọn lựa mãi". Tiếng Thắm cười: "Chị ấy tưởng thế thôi chứ thực ra trước khi bà thím giới thiệu với chị thì anh Phương đã gặp em mấy lần khi về quê ăn giỗ". "Quả là chồng khéo vợ khéo, trách gì chẳng thành đôi". Họ cười, tiếng cười vui vẻ râm ran trong đêm yên ả...
Tôi rút lui, suýt ngã khi xuống thềm. Rồi cứ đi trong đêm như người ngây…
(Nguồn: https://kilopad.com/truyen-ngan-c197/doc-sach-truc-tuyen-trang-noi-day-gieng-b6578, Trăng nơi đáy giếng (trích) – Trần Thùy Mai)
***Nhà văn Trần Thùy Mai tên thật là Trần Thị Thùy Mai, sinh ngày 8 tháng 9 năm 1954 tại Hội An, Quảng Nam. Quê quán: làng An Ninh Thượng, xã Hương Long, huyện Hương Trà, (nay là phường Hương Long, Thành phố Huế), tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng. Năm 1987, Trần Thùy Mai đã chọn nghiệp viết làm con đường đi cho riêng mình. Một nhà văn luôn có một vùng đất của riêng mình. Không chỉ là bối cảnh nơi câu chuyện diễn ra mà còn là không gian giúp nhà văn làm nổi bật cái phông nền văn hóa, tính cách và con người nơi đó. Nhắc đến Trần Thùy Mai là nhắc đến nhà văn xứ Huế với những đặc trưng không thể trộn lẫn. Những truyện ngắn của chị thường chọn các nhân vật phụ nữ Huế rất bình thường nhưng luôn đối mặt với trắc trở, lận đận trong tình duyên và thậm chí đôi khi còn cực đoan đến mức đi tìm sự cứu rỗi về mặt tâm linh như trong “Trăng nơi đáy giếng”. Tác phẩm viết năm năm 2008 in trong tập truyện cùng tên.